Tulku Sangngak Tenzin Rinpoche. Khóa học. Thiền định trong truyền thống Dzogchen
Toàn văn bài giảng
[Lời nguyện Tây Tạng] Rubarta Janjinto Borasha Under Trendalaya.
Just dun means the danger design khatanyam be jikantas dandru ganji pande The Jin DVN thought to Toparas.
Uh, Dungasimjov, Karvaj Vatami, uh, Chutanza Janj Oh Lam Swatani.
Tôi xin gửi lời đến tất cả quý vị. Tôi chào tất cả quý vị. Xin cảm ơn rất nhiều tất cả các ban tổ chức. Và tất cả quý vị đã tham dự buổi gặp gỡ hôm nay của chúng ta.
Hôm nay chúng ta sẽ nói về chủ đề thiền định. Tôi được mời trình bày về cách thực hành thiền định trong truyền thống Đại Viên Mãn (Dzogchen).
Và về thiền định, trước hết chúng ta nhận giáo huấn, lắng nghe, nghe giáo huấn về thiền định, suy ngẫm, và cuối cùng bắt tay vào thiền định. Như vậy có ba pháp tu: nghe, suy ngẫm và thiền định.
Đây là trình tự chung của sự thực hành.
Về việc nghe và suy ngẫm, chúng nhằm giúp chúng ta thiền định thành công, giúp ta vận dụng tri thức ấy vào thiền định. Chúng ta nghe các giáo huấn upadesha và suy ngẫm về ý nghĩa của chúng để cuối cùng thấu đạt tri thức ấy qua kinh nghiệm thiền định của chính mình. Như vậy, các pháp tu nghe, suy ngẫm và thiền định liên kết với nhau. Nghe và suy ngẫm được làm chính là vì sự thực hành, vì thiền định. Không có một đề tài nào mà ta nghe rồi để đó; không có đề tài nào ta suy ngẫm rồi bỏ mặc nó không dùng đến trong sự thực hành.
Và thiền định.
Chúng ta hành thiền vì một mục đích nhất định. Tất nhiên, mỗi người chúng ta đều có một mục đích. Và chúng ta thiền định vì nó mang lại lợi ích. Thiền định mang lại lợi ích gì? Nhờ sự thực hành ấy, chúng ta đạt được nhiều phẩm hạnh, nhiều thiện đức, và trong thời đại chúng ta đặc biệt xã hội chúng ta rất cần một phương pháp như quán chiếu, như thiền định, vì đó là phương pháp thâm sâu, nhờ đó chúng ta đạt được hạnh phúc, sự an tĩnh, sự an bình.
Và nhờ thiền định, chúng ta đạt được . sự giàu có. Sự giàu có nội tâm, tâm linh.
Tất nhiên, trong thời đại chúng ta, từ "giàu có" gắn với sự sung túc vật chất. Nhưng cùng với sự an lạc thân thể, với sức khỏe thể chất, chúng ta cũng cần sự giàu có nội tâm.
Và nhiều người, dù họ sống một cuộc đời hạnh phúc, thành đạt, rất nhiều người trong lòng vẫn cảm thấy bất hạnh. Đây là một dạng thiếu thốn mới xuất hiện trong thời đại chúng ta. Đây là một dạng nghèo khó mới — sự nghèo khó tâm linh, sự nghèo khó nội tâm. [Kệ tụng Tây Tạng] So we go capture mention. But the thoughtamjilla tini the ni m t ni Và tất cả mọi người, dù sự sung túc của họ ra sao, tất cả mọi người đều mong cầu hạnh phúc, và đều mong vượt qua khổ đau của mình. Và sự an lạc thân thể, lợi ích vật chất không thực sự giúp ta đạt được sự an lạc nội tâm, sự quân bình, sự quân bình nội tâm.
Vì vậy có thể nói rằng trong thời đại chúng ta, bất chấp mọi sự phát triển kỹ thuật, mọi sự phát triển vật chất, rất nhiều người vẫn nghèo khó bên trong, vẫn trải qua sự nghèo khó tâm linh, nghèo khó nội tâm. Còn sự an hòa, an tĩnh, hạnh phúc, sự cởi mở — đó là tất cả những gì mỗi người chúng ta hướng tới. Sự thoải mái nội tâm.
Tất cả những điều ấy tạo nên sự giàu có nội tâm, sự giàu có của tâm hồn.
Nhiều người giàu có về vật chất.
Và những người này không gặp vấn đề về chỗ ở, thức ăn và phương tiện sinh sống, nhưng dù vậy ai cũng biết rằng tất cả chúng ta đều gặp phải vấn đề, kể cả người giàu. Và ở đây thiền định giúp ta rất nhiều. Thiền định giúp làm an tĩnh tâm mình, đưa nó về sự quân bình, đạt được hạnh phúc.
Và trong Pháp, người tu hành Pháp gọi trạng thái nội tâm như vậy là tâm rộng mở, an vui. Tâm rộng mở, an vui đạt được nhờ thiền định. Để thiền định, trước hết chúng ta nhận giáo huấn. Chúng ta nghe giáo huấn, suy ngẫm về ý nghĩa của chúng rồi áp dụng tri thức ấy vào thực hành. Và rồi dần dần sự an tĩnh, hạnh phúc, an lạc nội tâm của ta được củng cố, tăng trưởng, và như vậy ta đạt đến tâm rộng mở, an vui. [Kệ tụng Tây Tạng] Đây chính là tâm rộng mở ấy.
Đó là sự thoải mái nội tâm, sự thoải mái tinh thần. Dù ta gọi trạng thái này bằng tên gì, nó vẫn là một.
Bất cứ ai cũng có thể đạt được trạng thái này. Đạt đến sự quân bình tâm hồn nội tâm như vậy, đến sự cởi mở, qua thiền định.
Không quan trọng người ấy thuộc giai tầng nào, giữ vị trí nào trong xã hội; người ấy có thể giàu hoặc nghèo. Tất cả mọi người đều có thể thực hành thiền định. Và thiền định dẫn đến sự an tĩnh.
[Kệ tụng Tây Tạng] Hạnh phúc, sự an lạc nằm bên trong chúng ta. Vậy mà ta lại có khuynh hướng tìm nó ở đâu đó trong thế giới bên ngoài. Những người trải qua thiếu thốn vật chất và tìm hạnh phúc bên ngoài cho rằng nếu trở nên giàu có thì điều đó có thể giải quyết mọi việc. Người giàu, đến lượt mình, lại nghĩ rằng nếu họ đổi chỗ với người khác thì sẽ thoát khỏi những vấn đề của mình, nhưng không phải vậy.
Вот и соре.
Điều này cho thấy rằng hạnh phúc, sự an tĩnh, sự hài hòa — những điều này nằm trong tâm ta, chúng không nằm ở thế giới bên ngoài. Và để nuôi dưỡng hạnh phúc nội tâm, ta phải nỗ lực, vì chỉ nghe giáo huấn, chỉ đến dự các buổi giảng, ta sẽ không thể đạt được hạnh phúc, sự an lạc, sự an tĩnh ấy. Nếu quý vị nghĩ rằng chỉ cần nghe một giáo huấn, suy ngẫm về nó một thời gian là đủ, thì thế là chưa đủ. Cần phải lặp đi lặp lại trong thực hành thấu đạt những trạng thái này, tăng cường, củng cố những trạng thái này.
Quý vị có thể thấy những người tu hành Pháp, khi gặp vấn đề, đánh mất sự can đảm, sức mạnh tinh thần, đánh mất sự vững vàng của tâm. Điều này xảy ra vì người ta nghĩ rằng hạnh phúc có thể đạt được bằng nỗ lực nhỏ.
Như vậy, chỉ nhận lời khuyên, nghe giáo huấn rồi để đó, không đưa vào thực hành, là chưa đủ. Trong trường hợp ấy, ta sẽ không đạt được hạnh phúc và sự an lạc.
Điều quan trọng là áp dụng tri thức vào thực hành, thiền định, và khi ấy nỗ lực của ta mới có ý nghĩa.
Nhìn chung, thiền định mang lại cho ta điều tốt lành lớn lao, lợi ích lớn lao. Như tôi đã nói, chính qua thiền định mà ta đặt nền tảng cho sự giàu có nội tâm, cho sự an lạc nội tâm của ta. Trong thời đại chúng ta cuộc sống của ta nhìn chung là sung túc. Phần lớn chúng ta sống, nhìn chung, sung túc. Ta thụ hưởng lợi ích vật chất, ta thụ hưởng những lợi ích mà sự phát triển kỹ thuật mang lại, nhưng cùng với điều đó, điều quan trọng là cũng phải làm sinh khởi sự giàu có nội tâm. Và, như tôi đã nói, trong thời đại chúng ta nhiều người xem nhẹ điều này, dù bên ngoài sung túc, bên trong vẫn nghèo nàn, túng thiếu, thiếu thốn. Đây là một dạng nghèo khó mới.
Một dạng nghèo khó nội tâm, tâm linh mới, biểu hiện một cách đặc biệt trong thời đại chúng ta.
Đây là những người nghèo khó mới, không nhìn vào bên trong mình và xem nhẹ cái bên trong. Vì vậy điều quan trọng là thực hành thiền định để không trở thành những người túng thiếu, nghèo nàn về mặt tâm linh như vậy. Và về thiền định, thiền định được chia thành phần đầu — phần chuẩn bị, phần chính và phần kết thúc. Có ba phần của thiền định. Trong mọi việc quý vị làm, cũng có thể nhận ra ba giai đoạn này. Dù làm gì, trước hết quý vị làm các động tác chuẩn bị, rồi thực hiện .
chính hành động ấy, và cuối cùng kết thúc. Và tương tự, thiền định cũng bắt đầu bằng những bước nhất định. Và trong bối cảnh thực hành Phật giáo, đặc biệt nếu ta nói về sự thực hành Đại Thừa (Mahayana), Cỗ Xe Lớn.
Và trong đó, dù quý vị thiền định, hay thực hành pháp khác, hay chỉ nghe các giáo lý, giáo huấn. Điều rất quan trọng là trước hết làm sinh khởi tâm xuất ly, vì xuất ly là nền tảng của toàn bộ sự thực hành của quý vị. Và thứ hai, như một động tác chuẩn bị, quý vị phải làm sinh khởi Bồ đề tâm. Vì phần chính nhất thiết phải đi cùng với Bồ đề tâm. Và như vậy, dù quý vị thực hành pháp nào, đó có thể là nghe các giáo lý, có thể là thiền định. Trong mọi trường hợp, trước hết điều quan trọng là làm sinh khởi tinh thần xuất ly rồi nuôi dưỡng Bồ đề tâm.
Và về xuất ly, nhiều người hiểu nó một cách lệch lạc. Họ nghĩ rằng xuất ly là khi ta từ bỏ mọi thứ xung quanh. Xuất ly là khi ta rời bỏ nhà mình, từ bỏ gia đình, người thân. Nhưng không phải vậy, đó là sự hiểu lầm về xuất ly.
Nếu quý vị rời bỏ nhà mình, rời bỏ những việc làm thường ngày, lui về với chính mình, đó là sự hiểu lầm về xuất ly. Xuất ly chân chính nằm ở mong muốn thoát khỏi sự bám chấp. Xuất ly chân chính là mong muốn vượt qua khổ đau. Chính mong muốn ấy mới là xuất ly thực sự. [Kệ tụng Tây Tạng] Dù quý vị thực hành pháp nào, sự thực hành của quý vị phải có nền tảng vững chắc. Và tinh thần xuất ly, ý niệm xuất ly chính là nền tảng ấy, là cơ sở cho sự thực hành của quý vị.
Và rồi chúng ta nuôi dưỡng Bồ đề tâm.
Tất cả chúng sinh giống nhau ở chỗ tất cả chúng ta đều không muốn khổ đau, đều muốn hạnh phúc, và quý vị phải biết đặt mình vào vị trí của người khác. Và, suy ngẫm như vậy, ta quán chiếu tất cả chúng sinh, nhận ra ước nguyện sâu kín của họ là được hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau, ta nuôi dưỡng Bồ đề tâm.
Và như vậy, qua xuất ly và qua Bồ đề tâm, ta bước vào trạng thái thiền định.
Và khi ta trực tiếp hành thiền, có những điều nhất định sẽ cản trở ta. Đó là những chướng ngại. Hay nói cách khác, đó là năm chướng ngại sẽ dẫn ta xa rời thiền định.
Bất cứ ai bước vào thực hành thiền định đều phải biết năm chướng ngại này. Năm điều cản trở sự định tâm.
Vì vậy điều quan trọng là nhận biết, ý thức về những chướng ngại này, vì khi quý vị thiền định, dù sao chúng cũng sẽ đến với quý vị lúc đầu. Quý vị sẽ gặp phải chúng.
Và năm chướng ngại — đó là những điều như sự lười biếng và những thứ tương tự. Chúng ta phải biết danh mục, danh sách của chúng, vì ta cần buông bỏ năm điều này, và khi ta thoát khỏi chúng, thì thiền định của ta sẽ không sai lầm. Thiền định của ta sẽ được thực hiện đúng đường, đúng cách.
Vì đây là buổi giảng nhập môn, tôi muốn trình bày năm chướng ngại này. Thứ nhất là sự lười biếng. Thứ hai là sự quên giáo huấn. Thứ ba là sự hôn trầm của tâm và sự trạo cử. Thứ tư — không áp dụng pháp đối trị. Và thứ năm — áp dụng pháp đối trị khi không cần thiết.
Như vậy có năm chướng ngại cản trở sự định tâm, định (samadhi).
Chướng ngại thứ nhất là sự lười biếng, sự không muốn thiền định.
Nếu quý vị lười thiền định, thì tất nhiên sự thực hành của ta sẽ không thành.
Nếu quý vị không thành thật với chính mình, nếu quý vị lười biếng và buông xuôi theo sự lười biếng, thì quý vị không thành thật, quý vị tỏ ra không thành thật với chính mình.
Vì sự nhàn rỗi, sự lười biếng như vậy, quý vị sẽ không thể thiền định. Đây là chướng ngại thứ nhất cần phải nhổ tận gốc. Thứ hai là sự quên giáo huấn. Nhiều bậc thầy, bậc đạo sư đã ban cho ta nhiều giáo huấn về thiền định, đã mô tả tỉ mỉ cách phải thiền định. Và nếu ta, sau khi nghe những giáo huấn ấy, rồi quên chúng đi, thì thiền định của ta cũng sẽ không thành. Vì vậy điều rất quan trọng là sau khi nghe giáo huấn, hãy ghi nhớ những giáo huấn ấy.
Nếu quý vị đã nhận giáo huấn, quý vị cần . ngay lập tức làm cho mình quen với ý nghĩa của những giáo huấn ấy qua thực hành. Bằng không, quý vị sẽ quên điều đó, sẽ quên những giáo huấn ấy.
Và đây là chướng ngại thứ hai, khi ta nhận giáo huấn, lời giảng về cách hành thiền, nhưng không áp dụng vào thực hành, quên chúng đi. Và có nhiều giáo huấn khác nhau về thiền định. Đó có thể là các upadesha của Đại Viên Mãn (Dzogchen), của Sự Toàn Thiện Vĩ Đại, có thể là giáo huấn của các truyền thống khác.
Nếu quý vị tiếp cận sự thực hành của mình không nghiêm túc, đánh mất tất cả những giáo huấn ấy, quên chúng đi, thì quý vị sẽ không thể thiền định. Như vậy hai chướng ngại đầu tiên là sự lười biếng và sự quên giáo huấn. Hai loại chướng ngại này cản trở các động tác chuẩn bị của thiền định. Như tôi đã nói, sự thực hành thiền định gồm ba giai đoạn: chuẩn bị, phần chính và phần kết. Sự lười biếng và sự quên giáo huấn cản trở ở giai đoạn chuẩn bị.
Như vậy quý vị phải biết rằng quý vị sẽ gặp những chướng ngại này trước khi ngồi vào tư thế thiền định.
Ngay ở giai đoạn đầu đã có thể gặp sự lười biếng, sự nhàn rỗi, sự quên giáo huấn.
Quý vị phải hiểu rằng sự lười biếng, sự quên giáo huấn tạo thành những chướng ngại ban đầu mà ta phải loại bỏ. Chúng cản trở ngay ở giai đoạn chuẩn bị, ở giai đoạn đầu. Và rồi, khi quý vị trực tiếp hành thiền, sự hôn trầm của tâm và sự trạo cử có thể cản trở quý vị.
Hôn trầm của tâm là khi quý vị thiền định và cảm thấy sự lờ đờ tinh thần bên trong, tâm quý vị thiếu sự sáng tỏ. Tâm quý vị rơi vào, như thể, một trạng thái lơ mơ buồn ngủ. Quý vị như thể rơi vào trạng thái ngủ đông. Đó là sự hôn trầm của tâm. Còn về sự trạo cử, đó là khi tâm bị phân tán bởi các đối tượng bên ngoài, các đối tượng ngoại cảnh.
Nói ngắn gọn, chúng cản trở ta không chỉ trong thiền định, mà cả khi quý vị nghe các giáo lý. Khi quý vị đang dự một buổi giảng, quý vị có thể hoặc ngủ thiếp đi, hoặc cảm thấy lờ đờ bên trong, hoặc có thể nghĩ về những điều bên lề và không nghe buổi giảng. Và cũng vậy, trong thiền định quý vị có thể ngồi vào tư thế tương ứng. Bề ngoài quý vị giống một người đang thiền, nhưng bên trong, tâm quý vị có thể đi lang thang đâu đó trong thế giới bên ngoài. Hoặc bên trong quý vị có thể rơi vào trạng thái lơ mơ, trạng thái lờ đờ. Và như vậy, trong thiền định, sự lờ đờ và sự trạo cử là những chướng ngại có thể khởi lên. Trong chính hành động ấy, ta phải loại trừ chúng.
Nhờ chánh niệm và tỉnh giác, ta nhận ra sự lệch hướng dù nhỏ nhất của tâm khỏi đối tượng. Ta nhận ra sự hôn trầm, sự lờ đờ, ta nhận ra sự trạo cử của ý nghĩ và chặn đứng chúng. Và như vậy, trong phần chính của sự thực hành, trong lúc thiền định thực sự, ta phải thoát khỏi chúng.
Sự hôn trầm và sự trạo cử tạo ra một bức màn, một tấm màn che, vì nó mà ta không thể định tâm vào đối tượng ban đầu. Tâm ta giống như bầu trời, bầu trời trong sáng thuần khiết, và đôi khi mây, từng đám mây, che khuất bầu trời.
Sự hôn trầm và sự trạo cử giống như những đám mây ấy che khuất mặt trời trời.
Như vậy, ở giai đoạn đầu, sự lười biếng và sự quên giáo huấn có thể cản trở ta. Trong chính lúc thiền định, sự hôn trầm và sự trạo cử có thể cản trở. Và rồi, khi ta đã thiền định trong thời gian dài, ở cuối có thể có những điều cản trở ta như sử dụng pháp đối trị khi không cần, và không sử dụng pháp đối trị khi cần. Và một điểm rất quan trọng là ta phải theo con đường trung đạo. Ta phải khéo léo điều hòa hai trạng thái này, vì nếu ta dùng pháp đối trị quá mức, điều đó sẽ khiến ta bị phân tâm. Điều đó sẽ làm sinh khởi, làm tăng các kiến tạo khái niệm.
Vì vậy ta phải biết rằng khi áp dụng pháp đối trị, ta phải thận trọng, áp dụng nó với liều lượng vừa phải.
Còn nếu hoàn toàn từ bỏ điều này, hoàn toàn từ bỏ việc áp dụng pháp đối trị, thì điều đó cũng sẽ cản trở thiền định. Điều đó sẽ cản trở việc ta có thể tiếp tục kinh nghiệm thiền định của mình.
[Kệ tụng Tây Tạng] Điều quan trọng cần biết là thiền định là một dòng chảy, một dòng chảy tiếp diễn. Và nếu ta không học được cách tiếp cận khéo léo vấn đề này — khi nào áp dụng pháp đối trị và khi nào buông bỏ nó, dòng chảy thiền định sẽ bị gián đoạn. Ta sẽ không thể giữ được sự toàn vẹn của dòng chảy này.
Sử dụng pháp đối trị khi không cần, và không sử dụng pháp đối trị khi có nhu cầu — đó là chướng ngại cuối cùng đang chờ đợi người hành thiền.
Và xin cho phép tôi nhắc lại một lần nữa: lúc đầu, sự lười biếng, sự không muốn thiền định, và sự quên giáo huấn có thể cản trở ta. Trong chính lúc thiền định, sự hôn trầm của tâm và sự trạo cử có thể cản trở ta. Ta phải loại trừ chúng. Và ở cuối ta phải học cách sử dụng các pháp đối trị một cách đúng đắn. Nếu dùng các pháp đối trị quá mạnh, nếu sự định tâm của ta quá mức, điều đó sẽ không giúp ích cho sự định tâm. Hành thiền giống như lên dây đàn lute.
Nếu dây căng quá mức, chúng sẽ đứt. Và cũng vậy, nếu ta dùng sức quá mức, dùng pháp đối trị quá độ, thì điều đó sẽ cản trở thiền định.
Và cũng vậy, nếu dây không căng đủ, ta sẽ không có được âm thanh hay. Và cũng vậy, nếu quý vị đối đãi với thiền định một cách hời hợt, hoàn toàn không áp dụng pháp đối trị và để tâm mình ở trong trạng thái bình thường, thì quý vị sẽ không nhận ra mình lại làm những việc quen thuộc, chứ không phải thiền định. Như vậy, hai chướng ngại ở đầu — sự lười biếng và sự quên giáo huấn; một chướng ngại ở giữa — đó là sự hôn trầm, sự lờ đờ và sự trạo cử; và ở cuối hai chướng ngại — áp dụng pháp đối trị khi không cần, và từ bỏ nó khi có nhu cầu áp dụng pháp đối trị.
Và điều rất quan trọng là quý vị thực hành thiền định trong một thời gian dài.
Và để được vậy, điều quan trọng, như tôi đã nói lúc đầu, là chặn đứng sự lười biếng và nhận được những giáo huấn chân chính, đích thực. Giáo huấn.
Về pháp đối trị sự lười biếng, ở đây chánh niệm và tỉnh giác sẽ giúp ích. Đôi khi người ta không nhận ra mình rơi vào lười biếng, bắt đầu lười nhác, cư xử nhàn rỗi. Cần nhận ra điều này nhờ chánh niệm và tỉnh giác. [Kệ tụng Tây Tạng] Карзанатыни, гом джамни, карса натыни не трохи губерес. Và quý vị cũng phải biết rằng thiền định không nên là mục đích cuối cùng của sự tìm cầu. Chỉ biết thiền định thôi thì chưa đủ. Chỉ định tâm vào một đối tượng thôi thì chưa đủ.
Điều quan trọng là thiền định trở thành phương tiện giải thoát.
Vì vậy các bậc thầy Đại Viên Mãn nói rằng thiền định phải được tràn đầy các phương pháp giải thoát. Bằng không, trong trường hợp ngược lại, có ích gì nếu ta biết, trong thời gian dài, . định tâm vào đối tượng này hay đối tượng kia, nếu nó không dẫn đến giải thoát.
Và về thiền định, cần áp dụng năm sức mạnh. [Kệ tụng Tây Tạng] Hakko Hakko Sarvig Jackson, Tobati Jilatina, and I think that's a good thing. Tôi sẽ trình bày danh mục năm sức mạnh này. Cần ghi nhớ danh sách này, vì chúng sẽ giúp ta tiến triển trong thiền định.
Và nói chung, ta thiền định để làm gì? Để tự giải thoát.
Chỉ biết những điều căn bản về thiền định, kỹ thuật thiền định, kỹ thuật định tâm thì không giúp ích.
Nó không giúp ta thoát khỏi phiền não, không giúp ta giải thoát; vì vậy thiền định tràn đầy năm sức mạnh chắc chắn dẫn đến giải thoát.
Sức mạnh thứ nhất giúp ích cho thiền định là sức mạnh nghe giáo huấn.
Nếu quý vị thiền định theo ý thích của mình, và không nương vào những lời dạy đúng đắn, thì quý vị sẽ chẳng đạt được gì; vì vậy cần phải có sức mạnh. Sức mạnh là một năng lực; tức là, nhờ nghe giáo huấn, quý vị có được một năng lực.
[Kệ tụng Tây Tạng] Như vậy, sức mạnh thứ nhất là nghe giáo huấn. Đây là một thành phần rất quan trọng của sự thực hành của ta. Quý vị có thể thực hành thiền chỉ (shamatha), quý vị có thể thực hành các pháp quán chiếu, quý vị có thể thực hành sự sinh khởi Bồ đề tâm, hoặc thực hành.
Ví dụ, trong Đại Viên Mãn có nhiều upadesha về sự an trú trong tâm tánh. Dù quý vị thực hành pháp nào, trước hết cần làm quen với nó qua việc nghe giáo huấn.
Khi nhận giáo huấn, quý vị tạo ra bên trong mình một kho báu.
Quý vị được làm giàu bằng nhiều upadesha, giáo huấn, sẽ là sự giàu có nội tâm của quý vị.
Vì vậy sức mạnh thứ nhất là nghe. Và ngay cả khi quý vị thiền định, quý vị không làm một việc gì đó trừu tượng. Thực ra, khi quý vị thiền định, quý vị thấu hiểu ý nghĩa của các giáo huấn quý vị nhận được từ vị guru. [Kệ tụng Tây Tạng] Тупа самбасарватени. Và sức mạnh thứ hai — là suy ngẫm về các giáo huấn.
Vì chỉ nghe thôi cũng tiếc thay là chưa đủ.
Nếu quý vị nghe, nghe mãi mà vẫn không thấu hiểu ý nghĩa của tất cả những điều này, thì quý vị sẽ không đạt được sức mạnh thứ hai.
Trước hết ta nghe giáo huấn, và thứ hai ta suy ngẫm về ý nghĩa của những giáo huấn đã nghe. Ta suy ngẫm về những lời mà ta đã nhận được trong quá trình nghe giáo huấn.
Như vậy, sức mạnh thứ nhất là sức mạnh nghe giáo huấn, sức mạnh thứ hai là sức mạnh suy ngẫm.
Sức mạnh thứ ba và thứ tư là sự nuôi dưỡng chánh niệm và tỉnh giác. Tôi nghĩ rằng nhiều người trong quý vị đã biết những thuật ngữ này. Sức mạnh thứ ba và thứ tư là chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm là điều quan trọng đối với thiền định. Không có nó, tất nhiên, ta sẽ không thể định tâm.
Vì trong thiền định ta không được lệch khỏi đối tượng đã chọn. Nhưng nếu ta thiếu chánh niệm, thiếu sự chú tâm, thì tâm ta sẽ luôn bị phân tán.
Sự định tâm sẽ suy thoái, và chánh niệm, đến lượt nó, nương vào tỉnh giác, sức mạnh thứ tư. Khi ta đánh mất chánh niệm, khi nó suy yếu, tỉnh giác phải nhận ra điều này ngay lập tức. Tỉnh giác phải nhắc ta: "Ồ, bây giờ con không thiền định, con đã bị phân tâm".
Chính tỉnh giác bắt được trạng thái này, bắt được khoảnh khắc khi chánh niệm mất đi sự sắc bén.
Như vậy, sức mạnh thứ ba là sức mạnh chánh niệm, thứ tư là sức mạnh tỉnh giác.
Ta phải hiểu rằng không có chúng, không có sự chú tâm, không có tỉnh giác, ta cũng sẽ chẳng đạt được gì trong sự thực hành thiền định.
Vì vậy ta nhất thiết phải nương vào chúng.
Thứ năm là sức mạnh tinh tấn.
Nếu ta không có đủ nỗ lực, nếu ta không bỏ ra đủ nỗ lực và chỉ thỉnh thoảng thiền định, thì tất nhiên ta sẽ không thành tựu được điều này. Dù quý vị nhận được bao nhiêu giáo huấn, những giáo huấn quý báu, nhưng nếu không tinh tấn trong sự thực hành, quý vị sẽ chẳng đạt được gì.
Vì vậy những yếu tố đi kèm như nỗ lực, sự bỏ công nỗ lực, sự tinh tấn, cũng như những sức mạnh đi trước, giúp ta thiền định.
Nỗ lực ta bỏ ra, sự tinh tấn ta thể hiện, giúp ta đưa công việc đến chỗ hoàn thành.
Vì vậy sức mạnh thứ năm chính là sức mạnh tinh tấn.
Vào năm sức mạnh này cũng được thêm sức mạnh thứ sáu — sức mạnh thuần thục trọn vẹn, sức mạnh tập làm quen trọn vẹn, làm quen hoàn toàn.
Ta phải làm cho mình quen với điều ta thực hiện. . Khi quý vị hành thiền, đó là một hành động nhất định. Quý vị phải, trong thời gian dài, . đưa mình lại gần, làm cho mình quen với hành động này, để hành động này trở nên hoàn toàn quen thuộc với quý vị.
[Kệ tụng Tây Tạng] Sức mạnh này giống như việc mở một cuốn sách.
Nếu trước mặt quý vị có một cuốn sách và nó đóng kín, quý vị có thể nhìn nó bao lâu tùy ý, nhưng quý vị sẽ không hiểu trong đó viết gì. Và cũng vậy, quý vị mở mình ra cho thiền định qua sức mạnh thứ sáu — sức mạnh thuần thục trọn vẹn, sức mạnh làm cho mình quen hoàn toàn với một hành động như thiền định.
Và sự làm quen hoàn toàn là một trạng thái, một nét của tâm, mà quý vị đạt được trong quá trình rèn luyện nhiều lần.
Như vậy, khi thực hành Pháp, Bồ đề tâm, nhận ra diện mạo của trạng thái nguyên thủy, bản giác (rigpa), dù quý vị làm gì — đó thậm chí có thể không phải là thực hành Pháp, có thể là một cuộc dạo bộ đơn giản.
Nếu quý vị không quen đi dạo, thì quý vị cũng sẽ ra ngoài thưa hơn nhiều. Như vậy, cần làm cho mình quen với những điều này, làm quen một cách có ý thức.
Hãy tinh tấn, như Tịch Thiên (Shantideva) đã nói: tinh tấn, tinh tấn chân chính, là sự dấn thân hoan hỷ vào thiện hạnh.
Và khi quý vị thiền định, làm cho mình hoàn toàn quen với nó, thân thuộc với hành động này, hãy tinh tấn trong sự thực hành này — điều đó có nghĩa là quý vị tìm thấy niềm vui trong những pháp tu này.
Những pháp tu này không hề là gánh nặng cho quý vị. Đó là điều Tịch Thiên (Shantideva) đã nói. [Kệ tụng Tây Tạng] Tịch Thiên (Shantideva) là một trong những bậc đại pandita, bậc thầy của tu viện Nalanda. Và ngài sống một cuộc đời rất giản dị.
Thoạt nhìn, những người đương thời với ngài, các vị tăng sĩ khi ấy sống ở Nalanda, muốn trục xuất ngài khỏi Nalanda, vì họ nghĩ rằng Tịch Thiên là một hành giả rất lười biếng, và họ đặt cho Tịch Thiên biệt danh bhusuku, tức là người chỉ biết ngủ, ăn và đi vệ sinh. Nhưng tất cả những điều này chỉ ở bề ngoài. Tịch Thiên an trú trong trạng thái thực hành Pháp cả ngày lẫn đêm. Có vẻ như ngài làm những việc hết sức bình thường, nhưng trong tâm ngài thực hành Pháp.
Và điều này ngài đạt được nhờ bỏ công nỗ lực để đạt đến điều này. Ngài làm cho mình quen một cách bài bản.
Và như vậy . cuộc đời Tịch Thiên, chính cuộc đời của Tịch Thiên, cho thấy rằng ta phải có được những sức mạnh này — sức mạnh tinh tấn, sức mạnh làm quen hoàn toàn. Và Tịch Thiên cũng nói rằng không có điều gì mà ta không thể làm cho mình quen. Bất cứ điều gì mà lúc đầu có vẻ khó làm, nếu ta làm cho mình quen với nó, thì cuối cùng sẽ trở nên dễ thực hiện.
Và như vậy, nếu ta, trong khi nuôi dưỡng tất cả những sức mạnh này, thiền định một cách bài bản, thì cuối cùng thiền định sẽ trở nên dễ dàng với ta. Вот сна.
Có lẽ quý vị có một số câu hỏi. Tôi đã trình bày năm chướng ngại cản trở thiền định, cũng như năm sức mạnh giúp ta thiền định.
Theo một số nguồn, là sáu sức mạnh.
Sức mạnh nghe, suy ngẫm, chánh niệm, tỉnh giác — đó là bốn sức mạnh đầu. Sức mạnh thứ năm là sức mạnh tinh tấn, và sức mạnh thứ sáu là sức mạnh thuần thục, làm quen.
Nếu ta có những sức mạnh này, thì thiền định của ta sẽ thành công.
And yeah, the control. Вот у тебя картена юри.
Và bây giờ chúng ta hãy thiền định một lát. Năm phút.
Tất cả cùng thiền định. Hãy nhớ tất cả những chướng ngại mà tôi đã nói ở trên, năm chướng ngại.
Và trong khi thiền định — người ta nói rằng ta ngồi theo tư thế bảy điểm của Đại Nhật (Vairochana). Tôi nghĩ nhiều người trong quý vị đã quen với nó. Tôi có thể . giới thiệu ngắn gọn cho quý vị về nó.
Ta xếp chân theo tư thế kim cương, làm thẳng cột sống. Ta chắp hai lòng bàn tay ở ngang rốn.
Ta hơi cúi cổ, đầu về phía trước.
Đầu lưỡi chạm vào vòm trên của khẩu cái, và ánh mắt hướng xuống dọc theo đường chóp mũi. Hãy ngồi theo tư thế như vậy, và chúng ta hãy thiền định.
Sau đó chúng ta để tôi trả lời các câu hỏi của quý vị. Mỗi ngày nên thiền định bao nhiêu giờ? [Kệ tụng Tây Tạng] Алла Шаматигла Тюдзе Казуринг Гум Гогена.
Người ta nói rằng nếu ta mới chỉ đi những bước đầu trong thiền định, thì ta nên làm các thời thiền rất ngắn, nhưng tăng số lần thời thiền lên. Tức là quý vị thiền định trong thời gian rất ngắn, và số lần thử nên nhiều. Tức là quý vị thử nhiều lần, và mỗi lần thử phải ngắn. Hay nói cách khác, quý vị nên thiền định trong thời gian rất ngắn và làm nhiều thời, nhiều lần thử. Lúc đầu điều rất quan trọng là tích lũy kinh nghiệm, và thực ra lúc đầu quý vị chỉ tích lũy kinh nghiệm; quý vị nên xem xét mình có bị phân tâm trong khi thiền hay không. Để không quá mệt, lúc đầu thời lượng mỗi thời thiền nên ngắn.
Còn các thời, hay những lần thử thiền, thì có thể làm nhiều hơn. Câu hỏi tiếp theo. Tôi đã đọc rằng tâm tánh chân thật hiển lộ trong khoảnh khắc giữa hơi thở vào và hơi thở ra. Đây là ẩn dụ văn chương hay thiền định thực sự?
Vâng, có thể nói rằng đây là điều có thật, nếu người ấy có kinh nghiệm tương ứng. Ví dụ, một hành giả Đại Viên Mãn giàu kinh nghiệm, người đã có cái thấy, sự nhận ra bản tánh chân thật của bản giác (rigpa), người đã có kinh nghiệm này, biết an trú trong đó, an trú trong trạng thái này — một người như vậy có thể thấy, giữa hơi thở vào và hơi thở ra, trong khoảng đó, tâm tánh chân thật. Tất nhiên, điều này tùy thuộc vào kinh nghiệm. Và ở đây, tôi nghĩ, không thể đưa ra một câu trả lời dứt khoát duy nhất. Không thể nói rằng đó chỉ là ẩn dụ, không thể nói rằng đó là thiền định thực sự. Điều này sẽ tùy thuộc vào từng người.
Nếu người ấy không có kinh nghiệm, nếu người ấy chưa nhận upadesha, giáo huấn, không có kinh nghiệm liên quan đến sự nhận ra bản giác, thì tâm tánh chân thật có thể hiển lộ trong khoảng giữa hơi thở vào và hơi thở ra, nhưng người không có kinh nghiệm sẽ đơn giản là không nhận ra nó. Câu hỏi tiếp theo. Làm thế nào để phát triển sức mạnh chánh niệm?
Để phát triển sức mạnh chánh niệm, ta cần thiền định. Chánh niệm phát triển đồng thời với thiền định. Nếu không thực hành, nếu hoàn toàn không làm gì, ta sẽ chẳng đạt được thiền định, sức mạnh chánh niệm cũng sẽ không phát triển, không gì cả. Bằng cách thử đi thử lại, mỗi lần bỏ công tinh tấn, thể hiện tinh tấn, thiền định, ta mỗi lần dần dần phát triển sức mạnh chánh niệm của mình. Và khi quý vị nhận giáo huấn, suy ngẫm về ý nghĩa, suy ngẫm về lời, thì trong khoảnh khắc ấy cũng có thể nói rằng sự thực hành đó là một phần của việc phát triển chánh niệm. Quý vị giữ sự chú tâm của mình trên một đối tượng nhất định, trên giáo huấn này, trên ý nghĩa của giáo huấn này.
Và quý vị làm được điều đó càng lâu, thì chánh niệm của quý vị càng mạnh. Còn về các hành giả Đại Viên Mãn, những người biết an trú lâu dài trong dòng trạng thái mà trong đó hành giả nhận ra, thấy, nhận ra bản chất chân thật của bản giác — những hành giả ấy, chính bằng sự an trú trong trạng thái này, đã phát triển chánh niệm; tức là sự an trú của họ trong trạng thái này phát triển chánh niệm. Chánh niệm duy trì trạng thái này, và như vậy sức mạnh chánh niệm được tăng cường một cách tự nhiên mỗi khi ta thiền định. Một người nghe kém — làm sao cải thiện sức mạnh nghe?
Khi ta nói về sức mạnh nghe, thường điều đó có nghĩa là ta nhận giáo huấn từ vị guru, từ bậc thầy, và cố ghi nhớ những giáo huấn ấy. Ta luôn lắng nghe, nhận những giáo huấn này. Và trong đó, nếu quý vị, chẳng hạn, nghe kém, thì quý vị vẫn sẽ có cách nào đó để nhận được những giáo huấn này. Sau khi đã nhận được chúng, hãy lặp đi lặp lại trong tâm mình quay về với những giáo huấn này. Điều này cũng sẽ giống như . sức mạnh nghe.
Tức là người ta nghe giáo huấn, còn quý vị thì lặp đi lặp lại trong tâm mình quay về với những giáo huấn này. Và bên trong quý vị cũng nuôi dưỡng sự thanh tịnh, sự trong sáng của tâm đối với vị thầy này, đối với những giáo huấn này. Hay nói cách khác, quý vị nuôi dưỡng đức tin. Đức tin này cũng giúp ích rất nhiều, và trong trường hợp này nó cũng sẽ giúp biến sự lắng nghe nội tâm thành sức mạnh nghe. Thiền định Đại Viên Mãn khác với thiền định Kinh Thừa và Mật Thừa ở chỗ nào?
Về thiền định, thì nó như một tòa nhà nhiều tầng. Có thiền định của Kinh, có thiền định ở cấp độ Mật. Ví dụ, thiền định của Kinh là sự suy ngẫm về tính vô ngã của các pháp, sự suy ngẫm về tánh không của tất cả các pháp. Đó có thể là sự nuôi dưỡng Bồ đề tâm và những điều tương tự. Đó là thiền định của Kinh. Về thiền định của Mật, thì đó là các pháp tu khác nhau ở cấp độ giai đoạn phát khởi, giai đoạn viên thành.
Còn về Đại Viên Mãn, thì nó có con đường đặc biệt riêng, gọi là trekchö — sự cắt đứt trọn vẹn, và tögal — sự vượt qua tức thời. Và trong Đại Viên Mãn cũng có nhiều pháp thiền đặc biệt liên quan đến sự nhận ra diện mạo chân thật của bản giác, và như vậy có thể nói rằng mỗi pháp thiền là độc đáo, nhưng đồng thời có những giai đoạn, cấp độ khác nhau của toàn bộ tòa nhà này mà ta gọi bằng từ "quán chiếu", "thiền định". Theo Ngài, liệu có thể tôi đã đạt cái thấy về sự hiện diện tự nhiên qua bản văn của Longchen Rabjam, "Kho Báu Quý Giá của Pháp Giới" không? [Kệ tụng Tây Tạng] That is that tiny cause of the Monthropor Shala. Uh Tani Lamitamak any repa want to buy your rest, no?
Người ta nói rằng trước hết ta nhận giáo huấn từ một vị thầy, một bậc đạo sư. Và những lời này chỉ thẳng vào việc ta phải nương vào một vị thầy, sau khi đã nhận giáo huấn. Và rồi, đưa pháp này hay pháp kia vào thực hành một cách đúng đắn, cuối cùng ta đạt được những chứng ngộ cần thiết. Và khi ta đọc sách, tự mình đọc sách, xem một số thứ trên internet, thì tất nhiên trong quá trình ấy ta thường đạt được một sự hiểu biết nào đó, và đôi khi có thể nhầm lẫn sự hiểu biết ấy với kinh nghiệm tâm linh chân thật. Một sự bừng sáng mạnh mẽ nào đó có thể đến với quý vị. Quý vị có thể nghĩ rằng mình đã chứng ngộ điều gì đó, nhưng thực ra ta nhất thiết phải nương vào một vị thầy tâm linh, một bậc đạo sư, sau khi đã nhận giáo huấn từ ngài.
Các upadesha, những giáo huấn khẩu truyền bí mật, ta phải đưa vào thực hành, thiền định, đạt kinh nghiệm, và cuối cùng ta sẽ đạt, sẽ chứng đắc những chứng ngộ. Và vì vậy nhất thiết phải nương vào một vị thầy tâm linh. Có thể thực hành Đại Viên Mãn mà bỏ qua Kinh và Mật không?
Tất nhiên, có những người ngay trong đời này có thể lập tức thành tựu các giáo huấn ở cấp độ Đại Viên Mãn. Nhưng những người này, thường là, trong những đời trước, qua nhiều đời, đã đặt một nền tảng đủ vững để trong đời này sống lần hóa thân cuối cùng, rồi giải thoát. Nhưng những người như vậy rất ít. Và ta phải hiểu rằng những người ngay trong đời này một cách tự nhiên, như thể tự phát, đạt được giải thoát mà bỏ qua Kinh, Mật — những người như vậy có thể có, nhưng để đạt đến điều đó, họ đã lao nhọc rất nhiều trong những đời trước. Vì vậy trong mọi trường hợp ta phải đi theo con đường đáng tin cậy, gồm sự thực hành nghe, suy ngẫm và thiền định. Và về Đại Viên Mãn, thì Đại Viên Mãn là một giáo lý toàn vẹn, bên trong nó cũng bao gồm Kinh và Mật.
Ví dụ, nhiều bản văn, nhiều trước tác về Đại Viên Mãn, về Sự Toàn Thiện Vĩ Đại, như "An Nghỉ Trong Tâm Tánh" mà Longchenpa đã soạn — những giáo huấn được nêu trong đó đã chứa các pháp tu ở cấp độ Kinh và Mật. Và vì vậy điều quan trọng là nhớ rằng Đại Viên Mãn là một giáo lý bao trùm, toàn vẹn. Câu hỏi tiếp theo. Pháp tu quy y trong truyền thống Đại Viên Mãn và trong Mật có khác nhau không? [Kệ tụng Tây Tạng] Nhìn chung, tôi nghĩ rằng việc quy y trong Đại Viên Mãn và trong Mật giống nhau. Nhưng trong Đại Viên Mãn, ví dụ, khi ta quy y, thì có nền tảng (gốc), sự hiển bày và cấp độ bí mật.
Ở cấp độ nền tảng, ta quy y nơi Tam Bảo. Ở cấp độ hiển bày, ta quy y nơi ba gốc. Và ở cấp độ khía cạnh bí mật, ta quy y nơi ba thân giác ngộ, nơi ba thân chứng ngộ. Và vì vậy tôi nghĩ rằng, nhìn chung, việc quy y trong truyền thống Đại Viên Mãn và trong Mật có những điểm tương đồng, nhưng trong Đại Viên Mãn thì như tôi đã nói: ví dụ, ba gốc là sự quy y nơi lama, bổn tôn (yidam) và nơi dakini. Và về trạng thái căn bản trong đó ta quy y, đó là sự xác tín rằng đối tượng quy y là bao trùm; tức là một đối tượng quy y chứa trong mình tất cả các phẩm tính giác ngộ của những đối tượng khác. Thưa Ngài, xin hỏi thiền định nơi chóp mũi mang lại điều gì?
Cảm ơn.
Khi ta nói về thiền định nhất tâm, thì .
ánh mắt hạ xuống dọc theo đường chóp mũi — ánh mắt như vậy giúp ta không bị phân tâm. Hãy thử nghĩ: khi ta cố định tâm, và mắt ta mở, vì ta vẫn còn ít khả năng, năng lực định tâm chưa mạnh, thì đôi mắt mở sẽ tạo thêm nhiều yếu tố gây phân tâm. Đây, quý vị đang thiền định, đang ở trong một trạng thái thiền định, đang định tâm, mắt quý vị mở. Và vì trước mắt quý vị sẽ hiện ra nhiều thứ, những thứ này sẽ khơi lên nhiều ý nghĩ khác nhau. Và khi nhiều ý nghĩ khác nhau khởi lên trong đầu quý vị, chúng sẽ làm quý vị phân tâm. Khi ta làm thiền định nhất tâm như vậy, để có ít yếu tố gây phân tâm hơn, ta hạ ánh mắt xuống, để che chắn cho mình ở giai đoạn đầu khỏi những thứ cản trở, gây phân tâm, nhằm định tâm tốt hơn.
Ý nghĩa của từ Tây Tạng thường được dịch sang tiếng Nga là "đức tin" là gì? Lúc nào cũng thấy như bản dịch sát chữ sang tiếng Nga không truyền tải hết ý nghĩa.
Nhìn chung, đức tin là, một mặt, sự tin tưởng, lòng tận tụy. Và khi ta nói về đức tin, thường người ta phân biệt ba loại. Đó là: đức tin theo nghĩa chính, là sự tin tưởng, lòng tận tụy, sự hướng về. Thứ hai, đức tin như sự trong sáng, sự thanh tịnh của tâm, và thứ ba, đức tin như sự khát ngưỡng, mong muốn đạt được điều gì đó. Người ta phân biệt ba loại đức tin. Và dù thế nào đi nữa, nền tảng của tất cả những trạng thái này là sự bất biến, lòng tận tụy, sự không thể lay chuyển. Đó chính là đức tin.
[Kệ tụng Tây Tạng] Xin cảm ơn rất nhiều tất cả quý vị. Cho phép tôi ở phần cuối đọc lời hồi hướng công đức, và với điều đó chúng ta kết thúc buổi gặp gỡ hôm nay. [Lời nguyện Tây Tạng] Jugana Jebalaan J Bai Chival Makalam Tir Sadamja me compagni to jornand.
Xin cảm ơn rất nhiều tất cả quý vị. Hẹn gặp lại sau một tuần.